Cuối năm lau bàn thờ: Có 6 việc kinh động tổ tiên nhất định phải tránh, nhiều người không biết

  


Dùng khăn lau cũ, bẩn

Khi dọn dẹp bàn thờ, chúng ta thường có xu hướng dùng những chiếc khăn lau có sẵn trong nhà. Tu nhiên, bạn không nên dùng khăn lau cũ để lau bàn thờ. Đây là khu vực vô cùng thiêng liêng, quan trọng trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. Vì vậy, khi lau dọn bàn thờ cần phải sắm sửa chổi quét, khăn lau riêng để tránh phạm thượng với thần linh, tổ tiên.

Lau dọn vào những ngày cấm kỵ

Ông bà ta thường khuyên không nên lau dọn bàn thờ vào ngày mùng 3 âm lịch hàng tháng bởi việc này sẽ làm phân tán tài lộc, tiền của.

lau-don-ban-tho-02

Dùng nước lạnh để lau

Nước lạnh được xem là không phù hợp để sử dụng ở khu vực linh thiêng như bàn thờ. Gia chủ nên sử dụng nước ấm hoặc nước đun lá trầu, lá bồ đề... để lau dọn bàn thờ, thể hiện sự kính trọng với tổ tiên, thần linh.

Không mặc đồ nghiêm chỉnh

Nhiều người không biết rằng khi dọn dẹp bàn thờ cần phải mặc đồ gọn gàng, quần áo dài, không quá lòe loẹt. Tuyệt đối tránh mặc quần đùi, áo ba lỗ khi dọn bàn thờ.

Đặt đồ linh tinh lên bàn thờ

Nhiều người có thói quen đặt hộp thuốc, dao, kéo, chai lọ linh tinh lên bàn thờ. Tuy nhiên, những vật dụng này không liên quan đến khu vực thờ cúng và làm nơi đây mất đi sự trang nghiêm, linh thiêng vốn có. Vì vậy, trước và sau khi dọn dẹp bàn thờ, bạn nên bỏ hết những vật dụng không liên quan ra khỏi khu vực thờ. Ngoài ra, cần tránh bày biện hoa quả giả lên bàn thờ vì nó có thể khiến gia chủ gặp xui xẻo, mất tài lộc.

Tự ý xê dịch bát hương

lau-don-ban-tho-03

Khi dọn dẹp bàn thờ, chúng ta nên tránh xê dịch bát hương vì điều này được xem là kinh động tới thần linh, ông bà tổ tiên. Gia chủ nên rút chân hương một cách nhẹ nhàng, dùng khăn sạch lau xung quanh bát hương, tuyệt đối không nhấc bát hương lên. Giữ lại một số chân hương (số lẻ) trong bát hương, số chân hương còn lại đem hóa như vàng mã. Ngoài ra, chúng ta cũng không được thay tro trong bát hương bằng cát.

Read more…

Cách nhận biết da bò, da trâu, da cừu, da dê, da lợn

  


Da lợn

Da lợn rất dễ nhận biết bởi lỗ chân lông hiện ra khắp bề mặt có hình tròn, thô, hơi nghiêng 45 độ, và cứ 3 lỗ chụm lại với nhau. Khi sờ tay vào bề mặt rất cứng, rắn chính vì vậy da lợn thường dùng để làm giày da, dép da, vali hay túi. Đây là loại da được bày bán nhiều nhất bởi giá thành rất rẻ, dễ mua và có bán ở hầu hết các nước.

da-lon

Da dê

Bề mặt da dê mịn, chặt da, có độ dẻo dai cao. Nhìn kỹ bạn sẽ thấy những đường vân hình vòng cung và trên đó thường sẽ có 2-4 lỗ chân lông to, xung quanh là những lỗ chân lông rất nhỏ. Da dê thường sử dụng để làm áo da là phù hợp nhất.

da-de

icon chia sẻ đẹp Mời bạn xem thêm: Cách phân biệt da thật và da giả

Da cừu

Da cừu sẽ có độ mềm và mỏng hơn so với 2 loại da trên, lỗ chân lông đều rất nhỏ và có hình bầu dục. Các lô chân lông kết hợp với nhau thành hàng và phân bố đều khắp bề mặt da. Da được làm từ những chú cừu non thì chất liệu da sẽ kém bền hơn so với những chú cừu trưởng thành. Chất liệu da cừu mượt, bề mặt da trơn tru, có độ dẻo dai. Và có tính chất cách nhiệt, chính vì vậy găng tay mùa đông được làm từ da cừu để giữ đôi bàn tay được ấm áp, cũng giống như áo ấm mùa đông được làm từ da cừu hay là các vật dụng như giày, túi, ví.

da-cuu

 

Da trâu

Da trâu là loại da rất dễ bị hiểu lầm thành da bò. Nhưng bạn có thể nhận biết bằng cách xem thật kỹ lỗ chân lông của những tấm da. Lỗ chân lông của da trâu to hơn, và số lượng lỗ ít hơn so với da bò. Thêm nữa là chất liệu da mềm nhão hơn da bò, không được mịn, trơn tru như da bò.

da-trau

 

Da bò

Chất liệu mềm mịn, có giá thành cao hơn các loại da. Lỗ chân lông có hình tròn, thẳng, và phân bố đồng đều, cùng với độ dẻo dai và bền bỉ cùng khả năng chịu bào mòn tốt nhất trong tất cả các loại da chính vì vậy da bò được sử dụng nhiều nhất trong tất cả các mặt hàng thời trang.

da-bo-hat

da-bo-sap

Lưu ý: Da bò có 2 loại là da bò mịn thì lỗ chân lông nhỏ khít hơn, bạn phải nhìn thật kỹ mới nhận ra được. Và da bò hạt sần sùi hơn, rõ lỗ chân lông hơn da bò mịn, nhìn trên bề mặt da bò hạt gần tựa da trâu nhưng lỗ chân lông không to bằng.

Cách bảo quản da bạn nên biết

– Tránh để ví da hoặc các đồ vật làm bằng da ở những nơi có ánh mặt trời chiếu trực tiếp, vì nếu để ví dưới ánh mặt trời sẽ khiến bề mặt da bị khô và bề mặt da sẽ bị thô ráp.

– Khi không sử dụng nữa hãy lưu ý để ở nơi khô ráo thoáng mát. Nấm xuất hiện trên bề mặt da và tình trạng mốc có thể làm hư hỏng da và gây mất thẩm mỹ rất cao. Không nên để ví hoặc đồ dùng làm bằng da trong tầng hầm ẩm ướt hoặc dưới nền đất vì điều này có thể làm sự phát triển của nấm mốc.

– Giữ cho đồ da tránh xa các chất mài mòn như axit hoặc bazơ mạnh vì chất hóa học mạnh có thể làm xước hoặc bong tróc bề mặt da.

– Tránh để da bị căng ra hoặc phồng lên. Ví dụ như bạn bỏ nhiều vật vào trong ví da, hoặc ngồi lên nó trong thời gian quá lâu. Như vậy sẽ bị mất form và đồ da sẽ nhanh bị hỏng hơn.

– Điều cuối cùng nhưng cực kỳ quan trọng, hãy thường xuyên vệ sinh da và dưỡng ẩm nhé. Đồ da của bạn sẽ giữ được tính đàn hồi và luôn mềm mại.

Read more…

NÉT KHÁC NHAU GIỮA PHẬT GIÁO NAM TÔNG (PHÁI TIỂU THỪA) VỚI BẮC TÔNG (PHÁI ĐẠI THỪA)

  Phật giáo là một tôn giáo có nhiều tông phái. Sự phân chia thành các tông phái trong Phật giáo không phải do mâu thuẫn về tổ chức hay tranh giành về quyền lợi, địa vị trong tăng chúng mà do sự khác nhau ít nhiều về kinh điển, giáo thuyết. Biết được căn cơ của chúng sinh, đầu tiên Phật Thích Ca thuyết giảng những điều đơn giản để thuận lợi cho việc tiếp cận, giáo hóa; về sau các bài thuyết giảng được nâng cao hơn. Tuy nhiên, giai đoạn mới ra đời, Phật giáo còn có sự hiểu khác nhau về giáo pháp. Mặt khác, sau này trong quá trình phát triển của Phật giáo, nhất là Phật giáo Bắc tông đã chủ trương tùy duyên của chúng sinh mà hành hóa nên càng có cơ sở để hình thành các pháp môn tu hành. Lúc đầu Phật giáo có 02 hệ phái lớn (còn gọi là hai dòng) Phật giáo Nam tông (phái Tiểu thừa) và Phật giáo Bắc tong (phái Đại thừa). Từ hai hệ phái này, Phật giáo lại phân chia thành nhiều tông phái, sơn môn khác nhau.



       Như đã nêu trên, ngay từ thời kỳ tập kết kinh điển (được thực hiện vào mùa Hạ sau khi tổ chức lễ hỏa tang cho Phật Thích ca Mâu ni), trong Phật giáo đã manh nha hình thành 02 phái lớn là Thượng Tọa Trưởng Lão bộ và Đại chúng bộ. Tại Đại hội tập kết kinh điển lần thứ II (thế kỷ IV TCN), phái  Thượng Tọa Trưởng Lão bộ chủ trương bảo thủ Kinh – Luật - Luận trong hành đạo, song phái Đại chúng bộ lại chủ trương canh tân trong việc sử dụng Kinh – Luật - Luận để hành đạo cho phù hợp với điều kiện, trình độ của chúng sinh.

       Đến Đại hội tập kết kinh điển lần thứ IV, chính thức hình thành hai phái nhưng chưa có danh xưng Đại thừa và Tiểu thừa. Sau khi phái Đại chúng bộ phát triển hưng thịnh thì Phật giáo mới dùng tên gọi Tiểu thừa (nguyên gốc là phái Thượng Tọa Trưởng Lão bộ) và Đại thừa (nguyên gốc là phái Đại chúng bộ). Theo nghĩa bóng Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, chở được ít người còn Đại thừa là cỗ xe to, chở được nhiều người.

       Phái Đại thừa đa số truyền đến các nước phía Bắc nên gọi là Phật giáo Bắc tông; Phật giáo Tiểu thừa chủ yếu truyền đến phía Nam nên gọi là Phật giáo Nam tông (có trường hợp còn gọi Phật giáo Tiểu thừa là Phật giáo nguyên thủy).

    Qua sử sách, nghiên cứu và qua cách thức hành đạo cho thấy giữa Phật giáo Nam Tông và Phật giáo Bắc Tông có các điểm khác nhau chủ yếu như sau:

     Thứ nhất: Về giáo thuyết.

     Phật giáo Nam Tông khác Phật giáo Bắc tông chủ yếu ở thuyết Hữu và Vô (hay còn gọi có và không). Phật giáo Nam tông chủ trương: hữu luận hay chấp hữu, vạn pháp vô thường, tức là luôn chuyển động, biến đổi nhưng vẫn có (hữu) một cách tương đối  mà không thể nói là vô (không). Song về việc này, Phật giáo Bắc tông lại chủ trương không luận hay chấp không, cho rằng vạn pháp tuy có (hữu) nhưng thực ra lại là không (vô) vì vạn pháp chỉ là hư giả, không có thực tướng.

       Thứ hai về sự giải thoát

      Phật giáo Nam tông quan niệm sinh tử luân hồi và Niết bàn là hai phạm trù khác biệt nhau; có nghĩa chỉ khi nào thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử thì mới chứng ngộ được Niết bàn một cách tuyệt đối.

      Phật giáo Bắc tông khi nói về quan niệm  sinh tử luân hồi và Niết bàn lại cho rằng đây không phải là hai phạm trù khác biệt nhau vì ngay trong quá trình tồn tại, nếu tu dưỡng tốt thì sẽ cảnh giới được Niết bàn vì sinh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ Đề.

     Cũng về sự giải thoát, Phật giáo Nam tông chủ trương “tự độ, tự giác”, tức là người theo Phật giáo Nam tông tự giác ngộ, tự giải thoát cho bản thân mình mà không giác ngộ, không giải thoát được cho người khác. Song Phật giáo Bắc tông lại chủ trương “tự độ tự tha, tự giác tự tha”, nghĩa là người theo Phật giáo Bắc tông không chỉ giác ngộ, giải thoát cho chính mình mà còn giác ngộ, giải thoát cho chúng sinh. Chính quan điểm này là lý do dẫn đến vì sao gọi phái Tiểu thừa (Nam Tông) là cỗ xe nhỏ chỉ chở được ít người, con đường cứu vớt hẹp còn Đại thừa (Bắc tông) là cỗ xe to chở được nhiều người và con đường cứu vớt rộng.

     Thứ ba: Về mặt văn hóa

     Phật giáo Nam tông từ Ấn độ truyền đến các nước phía Nam. Mặt khác trước khi  Phật giáo Nam tông truyền đến, các nước này đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và đạo Bà la môn nên Phật giáo Nam tông ở các nước như Srilanca, Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào… có sự tiếp thu của văn hóa Ấn Độ.  Các nước theo Phật giáo Nam tông thường tạo ra được lực lượng tín đồ đông đảo và ổn định nên nhiều nước Phật giáo đã trở thành quốc đạo, đặc biệt có quốc gia Phật giáo Nam tông trở thành gốc của văn hóa. Chính vì điều này, ở các nước theo Phật giáo Nam Tông sẽ ít có sự xâm nhập của các tôn giáo khác.

 

                

          Phật giáo Bắc tông khi truyền đến các nước phía Bắc thường qua con đường từ Trung Quốc sang nên những nước có Phật giáo Bắc Tông như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.. chịu ảnh hưởng lớn bởi văn hóa Trung Quốc, nhất là Nho giáo và Lão giáo.  Các nước theo Phật giáo Bắc Tông hình thành lực lượng Phật tử thuần thành song lực lượng Phật tử này lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ở nhiều mức độ khác nhau nên rất khó xác định.

                                                

          

 

           Thứ tư: về vấn đề thờ phụng

           Phật giáo Nam Tông thì chỉ thờ duy nhất một tượng Phật Thích Ca và các vị A La Hán có mẫu tượng giống người Ấn Độ. Song Phật giáo Bắc Tông, ngoài việc thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn thờ nhiều tượng Phật và Bồ tát khác nữa.

           Sở dĩ có sự thờ phụng khác biệt là do quan niệm về việc thờ phụng Phật của hai hệ phái khác nhau, cụ thể là:

          (1) Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, họ cho rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người bình thường như bao nhiêu con người bình thường khác. Ngài cũng có những nhu cầu cho đời sống: ăn, mặc, ở … và cũng chịu chung một định luật vô thường chi phối, phải trải qua những nỗi thống khổ của kiếp nhơn sinh là sinh, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên, Ngài chỉ khác hơn người thường ở chỗ, Ngài đã hoàn toàn giác ngộ, do sau khi xuất gia nỗ lực tu hành mà thành đạt được đạo quả. Ngược lại, chúng sanh vì còn mê, nên tạo nghiệp thọ khổ trong vòng sinh tử luân hồi.

           Cũng theo phái Nam Tông thì ngoài Đức Phật Thích Ca ra, không có một vị Phật nào khác. Do đó, họ chỉ tôn thờ một hình tượng Phật Thích Ca và tạc hình tượng giống như người Ấn Độ, bởi lẽ, Phật là người Ấn Độ đi tu thành Phật.

          (2) Ngược lại, Phật giáo Bắc Tông có quan niệm khác. Theo Bắc Tông, thì Đức Phật Thích Ca khác hơn người thường. Vì muốn độ chúng sanh, nhất là loài người, nên Đức Phật mới thị hiện ở nơi loài người để tiện bề giáo hóa. Khi thân Phật thị hiện ở Ấn Độ chỉ là một giai đoạn tạm thời trong muôn triệu giai đoạn, một hóa thân trong muôn triệu hóa thân của Ngài. 

          Còn khi nói về các vị Bồ tát, Phật giáo Bắc tông cho rằng các vị Bồ tát cũng là người trợ lực cùng với chư Phật để độ sanh, mỗi vị đều có những công hạnh đặc biệt. Vì vậy, nên các chùa của Phật giáo Bắc tông đều tôn thờ nhiều vị Phật và nhiều vị Bồ tát. Các chùa của Phật giáo Bắc tông khi tạc, tô vẽ hay đúc hình tượng Phật Thích Ca đều có những nét giống người bản địa  vì như thế mới thực sự là Phật giáo của địa phương, mới thực sự thân thiết gần gũi, dễ cảm hóa.

         Thứ năm: Về cách thức tu hành

        Phật giáo Nam tông nhấn mạnh việc tự giải phóng thông qua nỗ lực của cá nhân. Phương tiện chính để đạt được giác ngộ là thông qua Thiền và coi trọng tầm quan trọng của tu viện; hầu hết nhà sư của Phật giáo Nam tông thường giành hết thời gian cho tu viện. Sắc phục thường là màu vàng và đi khất thực để sinh sống.  Song với Phật giáo Bắc tông thì phải tự do lao động để sinh sống và sắc phục thường mặc là áo màu nâu, khi hành lễ mới mặc đạo phục màu vàng.

        Mặc dù giữa Phật giáo Nam tông và Bắc tông có nhiều điểm khác biệt song cũng có điểm giống nhau căn bản như: điểm giống nhau dễ nhận thấy nhất giữa hai hệ phái này là cùng bắt nguồn từ đức Phật, và cùng tôn kính đức Phật Thích Ca. Giáo pháp cơ bản hai phái này đều dung đó là: Tứ diệu đế (1), Thập nhị nhân duyên (2) (Mười hai nhân duyên), Bát chánh đạo (3), Nhân quả (4), Nghiệp (5)…

                 


               

                                      Đạo phục của Phật giáo Nam tông                  

 



                                                                 Đạo phục của Phật giáo Bắc tông

        Ngoài ra, qua thời gian, Phật giáo Nam tông và Bắc tông cũng đã hình thành nhiều tông phái khác nhau như: Phật giáo Nam tông có tông phái Câu xá tông, Thành thực tông, Luật tông… và Phật giáo Bắc tông có các tông phái như Pháp tướng tông, Tam luận tông, Hoa nghiêm tông, Thiên thai tông, Chân ngôn tông (hay còn gọi là Mật tông), tịnh độ tông, Thiền tông…Ở đây sẽ làm rõ một số tông phái lớn có liên quan đến Phật giáo Việt Nam, cụ thể:

         Về tông phái Chân ngôn tông (hay còn gọi là Mật tông)

        Chân ngôn tông do một nhà sư Ấn Độ khai lập trong hoàn cảnh Phật giáo Ấn Độ đang suy vi, đạo Bà La môn phục hồi mạnh mẽ. Theo lịch sử nhà Phật, thì Chân ngôn tông có từ khoảng 800 năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt. Có 08 vị sư tổ của phái này xếp theo thứ tự là Đại Nhật Như Lai, Kim Cương Tát Đỏa, Bồ tát Long mãnh, Long Trí…

       Chân ngôn tông được hình thành từ Phật giáo Đại thừa kết hợp với yếu tố bùa chú, pháp thuật thần linh của Ấn độ giáo. Về phương diện tư tưởng và lý luận, Chân ngôn tông lấy Phật giáo Đại thừa làm nền tảng nhưng cách thức hành đạo mang màu sắc Ấn độ giáo, có tính chất huyền bí, nghi lễ rườm rà, phức tạp.

       Đến thế kỷ VIII, Chân ngôn tông chuyển sang Tây tạng và bắt đầu dung nạp các yếu tố tín ngưỡng bản địa nhất là tín ngưỡng sùng bái thần linh, ma quỷ và tin vào sự bói toán. Chân ngôn tông đề cao người xuất gia tu hành thậm chí coi họ là hóa thân của Phật. Sau đo Chân ngôn tông tiếp tục được truyền bá đến Mông cổ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…

       Ở Việt Nam, Chân ngôn tông truyền vào từ sớm. Tuy không tồn tại với tư cách một tông phái riêng nhưng Chân ngôn tông có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Việt Nam nhất là vào thời nhà Lý với các nhân vật tu hành nổi tiếng như Vạn Hạnh Thiền sư, Từ Đạo Hạnh, Khổng Minh Không…

       Về tông phái Tịnh độ tông

       Lịch sử về Tịnh độ tông ít được sử sách của Phật giáo ghi chép, chỉ biết rằng Tịnh độ tông do nhà sư Tuệ Viễn sáng lập tại chùa Đồng Lâm (Giang Tây, Trung Quốc) khoảng cuối thế kỷ IV TCN.

      Tịnh độ tông dựa vào 03 bộ kinh Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ và A Di đà. Nếu các tông phái khác của Phật giáo quan niệm phải tu tập từng bước để đến với sự giác ngộ thì Tịnh độ tông lại chủ trương thờ tam bảo, niệm Phật và dựa vào phật lực để giải thoát là chủ yếu.

      Theo Tịnh độ tông, có nhiều cách để niệm Phật. Tu niệm là niệm trước ban thờ Phật có chuông, mõ, đèn nhang; Mật niệm tức là niệm thầm theo từng thời gian không cần có bàn thờ Phật; Chuyên niệm là khi đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng phải niệm Phật. Khi niệm Phật dù bằng cách nào cũng phải giữ cho tâm yên tĩnh, không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng, luôn nhớ đến công đức cũng như lời răn của Phật và nhất là phải có niềm tin vào sự giác ngộ. Tịnh độ tông là một tông phái Phật giáo mang tính phổ quát, đễ dàng tu hành cho mọi đối tượng nên thu hút đông đảo tín đồ tham gia.

      Về tông phái Thiền tông

       Thiền tông là một tông phái Phật giáo hình thành ở Trung Quốc vào khoảng đầu thế kỷ VI –SCN nhưng lại do một nhà sư người Ấn Độ tên Bồ Đề Đạt Ma làm sơ tổ.

      Bồ Đề Đạt Ma cho rằng giáo thuyết của Phật giáo quá trừu tượng, quá nhiều kinh sách, văn tự nên khó khăn cho việc tu học. Vì vậy để tạo điều kiện cho người có trình độ văn hóa thấp, người bình dân dễ dàng tiếp thu giáo giáo lý nhà Phật, ông chủ trương tu Thiền (nghĩa là im lặng mà suy nghĩ) và ông xem tu thiền là cách tốt nhất để thấy được tâm, tính, giác ngộ vì Phật tại tâm tại tính.

      Theo Thiền tông có hai cách tu: tu Tiệm ngộ nghĩa là phải tu hành lần lượt vượt qua 52 bậc mới đạt quả vị Phật và tu Đốn ngộ nghĩa là giác ngộ nhanh với điều kiện người tu phải làm cho trí tuệ bừng sáng. Thực ra theo các Thiền sư thì tu Tiệm ngộ và tu Đốn ngộ có mối quan hệ với nhau, là hai quá trình nối tiếp nhau của người tu thiền vì Tiệm là nhân của Đốn và Đốn là quả của tiệm.

    Qua tìm hiểu cho thấy mặc dù Phật giáo là tôn giáo có nhiều tông phái, song các Tông  phái đều thợ phượng đấng tối cao là Đức phật và hiện nay Phật giáo cũng là một tôn giáo lớn của thế giới với quá trình hình thành và phát triển lâu đời.

Read more…

Cһսуệո ϲô ‌ցáі τừո‌ց ӏà ոіềɱ τự һàᴏ ϲủ‌α ‌ցі‌α đìոһ ƅị ϲһồո‌ց τɾả νề ᵴ‌αս 21 ո‌ցàу ϲướі

 N. ӏà ɱộτ ϲô ‌ցáі хіոһ đẹρ, τừո‌ց ӏà ոіềɱ τự һàᴏ ϲủ‌α ‌ցі‌α đìոһ, ϲһòɱ хóɱ. Dᴏ һᴏàո ϲảոһ, ϲô զսуếτ địոһ τìɱ ɱộτ τấɱ ϲһồո‌ց ո‌ցᴏạі để τһᴏáτ ո‌ցһèᴏ. Tһế ոһưո‌ց, ӏấу ϲһồո‌ց ɱớі đượϲ 21 ո‌ցàу τһì ϲô ƅị ոһà ϲһồո‌ց τɾả νề…

Tɾᴏո‌ց ոһữո‌ց ɱảոһ đờі ƅսồո ɱà τôі đã ‌ցặρ ở Cầո Tһơ, хóτ х‌α ոһấτ, ƅսồո ոһấτ ρһảі ⱪể đếո ᵴố ρһậո ϲủ‌α N., ɱộτ ϲô ‌ցáі ở Tɾսո‌ց Nһứτ, զսậո Tһốτ Nốτ, τһàոһ ρһố Cầո Tһơ. Hơո 10 ոăɱ τɾướϲ N. ƅướϲ νàᴏ τսổі đẹρ ոһấτ ϲủ‌α τһờі ϲᴏո ‌ցáі. Vớі đôі ɱắτ ƅіếτ ոóі νà ɱáі τóϲ զսăո τự ոһіêո, N. đã ⱪһіếո ƅ‌αᴏ ϲһàո‌ց τɾ‌αі τһầɱ уêս τɾộɱ ոһớ. Nһưո‌ց ԁᴏ һᴏàո ϲảոһ ⱪіոһ τế ⱪһó ⱪһăո νà ƅởі ϲơո ᵴốτ ӏấу ϲһồո‌ց хứ Hàո ӏúϲ đó, N. զսуếτ địոһ τìɱ ϲһᴏ ɱìոһ ɱộτ τấɱ ϲһồո‌ց ո‌ցᴏạі.

Qս‌α ɱôі ‌ցіớі, զս‌α νòո‌ց ᵴơ τսуểո, N. đượϲ ɱộτ ϲһàո‌ց τɾ‌αі хứ Hàո “ϲһấɱ ᵴổ”. Đáɱ ϲướі đượϲ τổ ϲһứϲ ϲһóո‌ց νáոһ. Nһữո‌ց τưởո‌ց ‌ցі‌α đìոһ N. ᵴẽ đượϲ ɱộτ ⱪһᴏảո ρһí “ӏóτ τ‌αу”, ոһưո‌ց ոһữո‌ց ո‌ցườі ɱốі ӏáі đã ƅộі ướϲ. Số τіềո đã ⱪһôո‌ց đượϲ ո‌ցườі τ‌α ϲһі τɾả τһеᴏ τíոһ τᴏáո ϲủ‌α ‌ցі‌α đìոһ ϲô. S‌αս ⱪһі ϲướі, ƅà ɱốі ԁúі νàᴏ τ‌αу ɱẹ N. 1 τɾіệս đồո‌ց ɾồі ɾáᴏ һᴏảոһ: “Còո ӏạі ƅằո‌ց đấу νì τấτ ϲả đã ϲһі ρһí νàᴏ đáɱ ϲướі ɾồі”. Mẹ ϲô ϲһỉ ƅіếτ ոսốτ ‌ցіậո νàᴏ ӏòո‌ց, νì đếո ӏúϲ ոàу τһì ɱọі τһứ đã хᴏո‌ց, “‌ցạᴏ đã ոấս τһàոһ ϲơɱ”, ϲᴏո ‌ցáі ɱìոһ đã τɾở τһàոһ νợ ո‌ցườі τ‌α. Tɾờі Tâу Đô ɱư‌α ᵴụτ ᵴùі, ɱẹ N. ɱắτ ɾớɱ ӏệ τіễո ϲᴏո τһеᴏ ϲһồո‌ց νớі ոһữո‌ց ӏờі ϲầս ɱᴏո‌ց ɱ‌αу ɱắո ᵴẽ đếո νớі ϲᴏո ‌ցáі ɱìոһ. Nһưո‌ց ϲó ‌αі ո‌ցờ 21 ո‌ցàу ᵴ‌αս, ⱪһі ԁư âɱ νà ոһữո‌ց ᵴự ᵴᴏі ɱóі ϲһսуệո “ƅáո ϲᴏո” ϲһᴏ ϲһồո‌ց Hàո ϲһư‌α һếτ τһì ‌ցі‌α đìոһ N. đã ոһậո đượϲ ɱộτ ϲսộϲ đіệո τһᴏạі τһôո‌ց ƅáᴏ: R‌α ᵴâո ƅ‌αу đóո ϲᴏո.


Sâո ƅ‌αу Tâո Sơո Nһấτ ոһộո ոһịρ ӏà νậу ոһưո‌ց ӏạі һᴏ‌αո‌ց ӏạոһ νớі ‌ցі‌α đìոһ N. Mộτ ո‌ցườі ρһụ ոữ զսеո τɾᴏո‌ց đườո‌ց ԁâу ɱốі ӏáі ϲһᴏ N. ӏấу ϲһồո‌ց Hàո ӏạі ӏầո ոữ‌α ԁúі νàᴏ τ‌αу ɱẹ N. 1 τɾіệս đồո‌ց νà ԁẫո ƅà đếո ϲһỗ N. đ‌αո‌ց đứո‌ց. S‌αս 21 ո‌ցàу ӏàɱ ԁâս хứ ո‌ցườі, N. νề ϲһỉ ϲó ɱỗі ƅộ զսầո áᴏ τɾêո ո‌ցườі νà ϲườі ɱộτ ϲáϲһ νô һồո νớі ո‌ցườі đã ᵴіոһ τһàոһ ɾ‌α ϲô.

Kһôո‌ց τһể đư‌α ϲô νề ոһà, ɱẹ ϲô đàոһ ρһảі ν‌αу ɱượո τіềո đư‌α τһẳո‌ց ϲô đếո ƅệոһ νіệո. Tạі đâу, ᵴ‌αս ⱪһі τһăɱ ⱪһáɱ, ϲáϲ ƅáϲ ᵴỹ ⱪếτ ӏսậո ϲô đã ƅị τâɱ τһầո. Vàі ϲһụϲ τɾіệս đồո‌ց ν‌αу ⱪһі N. ӏấу ϲһồո‌ց ϲһư‌α τɾả đượϲ τһì ո‌αу ɱẹ ϲô ρһảі ‌ցáոһ τһêɱ ϲáϲ ɱóո ոợ để ϲһі ρһí τіềո τһսốϲ ɱеո đіềս τɾị ƅệոһ ϲһᴏ ϲô. Nһà ո‌ցһèᴏ ոêո ⱪһôո‌ց ϲó τіềո τһеᴏ ƅệոһ νіệո ɱãі đượϲ. Lúϲ ոàᴏ τһấу ԁấս һіệս N. đỡ ƅệոһ ӏà ‌ցі‌α đìոһ ρһảі хіո νề. Về ոһưո‌ց ‌ցі‌α đìոһ νẫո ρһảі ԁùո‌ց хíϲһ để хíϲһ ϲô ӏạі. Vì ոếս ⱪһôո‌ց ӏàɱ ոһư νậу τһì ϲô ᵴẽ ρһá ρһáϲһ νà ƅ‌αո đêɱ ӏạі ƅỏ đі ӏ‌αո‌ց τһ‌αո‌ց.

Mộτ ӏầո, τһấу ϲô đỡ ƅệոһ, τһươո‌ց զսá, ‌ցі‌α đìոһ ϲô đã τһáᴏ хíϲһ ϲһᴏ ϲô. Nһưո‌ց ոһᴏáո‌ց ɱộτ ϲáі ϲô ƅіếո ɱấτ. Gі‌α đìոһ τấτ τả ϲһᴏ ո‌ցườі đі τìɱ ⱪіếɱ νà ᵴ‌αս ɱộτ τһờі ‌ցі‌αո ӏ‌αᴏ τâɱ ⱪһổ τứ ϲũո‌ց đã τìɱ τһấу ϲô. Đóո ϲô νề, ‌ցі‌α đìոһ ƅắτ đầս τһấу ϲô ϲó ոһữո‌ց τɾіệս ϲһứո‌ց ɾấτ ӏạ. Và ᵴ‌αս đó τһì һọ ρһáτ һіệո ϲô ϲó τһ‌αі. Đã ո‌ցһèᴏ ӏạі ‌ցặρ τ‌αі ươո‌ց. Nợ ϲũ, ոợ ɱớі, ոợ τіềո τһսốϲ τһ‌αո‌ց, ‌ցіờ ӏạі τһêɱ đứ‌α τɾẻ, τấτ ϲả ոỗі ϲựϲ ոһọϲ ոàу ԁồո ӏêո ν‌αі ϲủ‌α ո‌ցườі ϲһ‌α ‌ցіà 60 τսổі.

Tһеᴏ ɱộτ ƅáϲ ᵴĩ ở Bệոһ νіệո Tâɱ τһầո Cầո Tһơ, Bệոһ νіệո đã τіếρ ոһậո ɱộτ ᵴố ρһụ ոữ ɱắϲ ƅệոһ τâɱ τһầո ᵴ‌αս τһờі ‌ցі‌αո ӏấу ϲһồո‌ց, ᵴіոһ ᵴốո‌ց ở ոướϲ ո‌ցᴏàі. Vị ƅáϲ ᵴĩ ոàу ϲһᴏ ɾằո‌ց, ⱪһі ӏấу ϲһồո‌ց ոướϲ ո‌ցᴏàі, ոһіềս ϲô ƅị ᵴτɾеᵴᵴ ոặո‌ց. Kһôո‌ց ƅіếτ τіếո‌ց, ⱪһôո‌ց ‌ցі‌αᴏ τіếρ đượϲ νớі ‌αі, τһậɱ ϲһí ϲó ոһữո‌ց ո‌ցườі ϲòո ƅị ƅ.ạ.σ һàոһ, τấτ ϲả ոһữո‌ց đіềս đó ⱪһіếո ϲáϲ ϲô τһấу ɱìոһ ӏạϲ ӏõո‌ց, ԁễ ԁẫո đếո τɾầɱ սấτ. Kһі ϲáϲ ϲô τɾở νề Vіệτ N‌αɱ, ոһіềս ‌ցі‌α đìոһ ᵴợ đіềս τіếո‌ց đã đư‌α ϲᴏո νàᴏ ϲáϲ ρһòո‌ց ⱪһáɱ τư ոһâո ⱪһôո‌ց ϲó ϲһսуêո ɱôո để ϲһữ‌α τɾị. Đіềս ոàу ϲàո‌ց ⱪһіếո ƅệոһ ϲủ‌α ϲᴏո ϲáі һọ ոặո‌ց һơո. Đó τһựϲ ᵴự ӏà ոһữո‌ց νấո đề đáո‌ց ρһảі ӏưս τâɱ…


Read more…

DỊ NHÂN "MỒM GANG LƯỠI THÉP": UỐNG MỠ SÔI NHƯ NƯỚC LÃ

  Trong đời làm báo đi nhiều rừng rú của mình, tôi được tận mắt khối chuyện kỳ dị nhưng chuyện dùng muôi múc mỡ trong chảo đang sôi ùng ục, đang chín già đổ vào mồm nuốt chửng, thì đúng là, chỉ nghe thôi, đã thấy dờn dợn ở cuống họng, cảm giác nóng bỏng trong dạ dày. 



Mùa A Tà dùng chiếc muôi nhôm múc canh, múc đầy muôi mỡ nóng, đưa lên miệng bình thản uống hết nhẵn. Mùa A Tà biểu diễn đi, biểu diễn lại, để tôi chụp được những tấm hình ưng ý nhất trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chụp hình xong, tôi lại dùng máy quay phim, và Mùa A Tà lại biểu diễn từ đầu. Khi đã có đủ hình ảnh, video, thì chảo mỡ cũng đã cạn tận đáy!

"Con ma" uống mỡ sôi giữa chợ

Trong đời làm báo đi nhiều rừng rú của mình, tôi được tận mắt khối chuyện kỳ dị, chẳng hạn như: Hà hơi mà loại bỏ được chất kịch độc của nọc rắn trong người; dùng ống tre mà hút được đạn chì ẩn trong da thịt; rồi liếm, ngậm, cắn lưỡi dao, lưỡi cày nung đỏ; hay người Dao đỏ, Pà Thẻn ở Hà Giang nhảy tưng tưng trên than hồng, bốc than hồng nhai… Những chuyện ấy rồi cũng giải mã được bằng ánh sáng khoa học, rằng nó là một cơ chế, thủ thuật nào đó. Nhưng chuyện dùng muôi múc mỡ trong chảo đang sôi ùng ục, đang chín già đổ vào mồm nuốt chửng, thì đúng là, chỉ nghe thôi, đã thấy dờn dợn ở cuống họng, cảm giác nóng bỏng trong dạ dày.

Chuyện này đúng là khó tin, nhưng anh Nguyễn Trọng Dũng, Phó Phòng Văn hóa huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên cứ khẳng định như đinh đóng cột, nên không thể không tin. Không chỉ anh Dũng, mà nhiều người dân ở cái thị trấn bé tí teo của huyện Điện Biên Đông, ai cũng kể về Mùa A Tà, ở bản Chung Xua, bởi hàng trăm người đã được chứng kiến Mùa A Tà múc bát mỡ sôi giữa chợ uống nhẩn nha như uống trà.

Chuyện là thế này: Đợt ấy, cuối năm, trời Điện Biên Đông lạnh lắm. Cũng phải cỡ chục năm rồi thì phải. Chợ phiên ngày cuối tuần đông đúc hơn thường lệ. Trai gái xuống chợ phiên gặp gỡ nhau, đồng bào mang sản vật xuống chợ bán. Trong số các nam thanh nữ tú xuống chợ, có Mùa A Tà, anh chàng người Mông, ở mãi bản Chung Xua xa xôi. Mùa A Tà dẫn bạn gái đến gian hàng bán bánh rán của bà hàng ăn từ dưới xuôi lên kinh doanh. Mùa A Tà đòi mua bánh rán, bà chủ bảo chờ một tí cho bánh chín hẳn, sẽ giòn và ngon hơn.

Thế nhưng, không hiểu do thèm quá, hay muốn thể hiện, mà anh chàng Mùa A Tà dùng tay không thò luôn vào chảo mỡ rán bánh sôi xèo xèo, vớt lấy một cái bánh, cho lên miệng ăn ngon lành. Trước khi ăn miếng bánh nóng giãy, Tà còn mút lấy mút để mấy giọt mỡ nóng nhểu xuống từ cái bánh. Nhìn Tà thò tay vào chảo mỡ sôi vớt bánh, rồi ăn cái bánh nóng đó, bà chủ quán mắt tròn, mắt dẹt, rú lên kinh hãi. Bà kêu Mùa A Tà bị ma nhập, nên mới làm điều kỳ dị như vậy. Mấy người chứng kiến tưởng Tà bị ma ám, đòi đè ra gọi thầy cúng. Lại có người xách nước lạnh tính dội vào tay Tà, để hạn chế độ bỏng.

Thế nhưng, Mua A Tà cười lớn, khẳng định không bị tâm thần, cũng không bị ma nhập. Thấy Tà tỉnh táo, nói chuyện vui vẻ, nên không ai nghĩ Tà bị ma ám, hay thần kinh nữa. Kiểm tra bàn tay của Mùa A Tà, thì cũng không thấy đỏ tấy - dấu hiệu của bị bỏng. Đang lúc mọi người còn chưa hết kinh ngạc, thì Mùa A Tà tuyên bố, có thể uống được cả mỡ sôi. Nghe Mùa A Tà tuyên bố như thế, mọi người lại thêm lần nữa mắt tròn, mắt dẹt.

Chưa để mọi người thách đố, Mùa A Tà với chiếc muôi to tướng của bà chủ quán, múc đầy muôi mỡ trong chảo sôi, đưa ngay lên miệng, mút chùn chụt mấy hơn hết nhẵn. Mùa A Tà định vớt thêm muôi nữa, uống cho đã miệng, thì bà chủ hàng bánh rán ngăn lại, vì sợ anh chàng kinh dị này uống hết mỡ của bà. Một số người còn đòi Tà há miệng, lè lưỡi để kiểm tra, xem có bị sức nóng hàng trăm độ của mỡ sôi làm cho bợt đi không. Tuy nhiên, lưỡi, miệng, vòm họng của Mùa A Tà chẳng có gì thay đổi. Tà vẫn cười nói toe toét, vui vẻ, vì vừa được xơi muôi mỡ ngon lành. Tà được bà chủ quán bánh rán tặng thêm cho vài chiếc vì màn biểu diễn hay ho.

Sau buổi biểu diễn kinh dị ấy, thì lời đồn anh chàng người Mông tên Mùa A Tà ở bản Chung Xua, uống được mỡ sôi ầm ĩ cả thị trấn nhỏ. Quá nhiều người chứng kiến, nên không ai đặt nghi vấn gì nữa. Sau vụ đó, cũng có vài lần, Mùa A Tà được chính quyền mời xuống thị trấn biểu diễn cho đồng bào xem trong các lễ hội văn hóa truyền thống. Không chỉ Mùa A Tà, mà còn có cả người cháu của anh, là Mùa A Só, cũng thi thoảng xuống trung tâm huyện và biểu diễn tiết mục uống mỡ sôi, khiến nhiều người dựng tóc gáy.

Nhưng rồi, đột nhiên, không ai thấy Mùa A Tà và Mùa A Só đâu cả. Nhiều người đồn rằng, cả hai chú cháu đều đã chết bất đắc kỳ tử trong một lần uống mỡ sôi. Có người thì bảo cả hai đã bị mỡ nóng làm thủng ruột. Người thì bảo bị phỏng ruột, dẫn đến thối ruột mà chết. Có người lại tin rằng hai chú cháu Tà và Só bị con ma nhập vào người mới uống được mỡ sôi và chính con ma đã vật chết cả hai người… Người ta cứ đồn vậy, còn thực hư chết thế nào, thì không ai rõ, vì bản Chung Xua xa quá, tít tận núi cao, chẳng ai rỗi rãi mò lên đó mà tìm hiểu hư thực. Thế nhưng, để làm rõ câu chuyện đồn đoán về khả năng đặc dị này, tôi đã tìm đường lên bản Chung Xua.

"Dị nhân" uống mỡ sôi

Trung tâm xã Keo Lôm của huyện Điện Biên Đông nằm ngay bên huyện lộ, nhưng đường vào bản Chung Xua thì đúng là đường lên giời. Đồng chí cán bộ tư pháp xã Keo Lôm bảo rằng, ngay bản thân đồng chí cũng ít khi vào bản, vì đường sá kinh khủng quá, cứ dốc ngược như đường lên giời. Trời nắng thì đi được, chứ trời mưa chỉ có nước cuốc bộ cả chục cây số. Điện lưới cũng chỉ mới được mắc vào bản. Chung Xua toàn người Mông, ít chịu học hành. Trai gái 12, 13 tuổi đã yêu đương, qua tuổi trăng rằm là thành vợ, thành chồng, con cái nheo nhóc.

Loanh quanh mãi ở xã, tôi mới thuê được Mùa A Tinh làm xe ôm chở vào bản Chung Xua. Mùa A Tinh bảo, chẳng mấy ai dám vào Chung Xua, vì nhỡ gặp mưa, thì không tha nổi xe ra, chỉ có nước để xe trong đó mà cuốc bộ về. Nhưng người ngoài còn sợ Chung Xua hơn cả mưa, là vì bản ấy có nhiều người nghiện, có không ít kẻ buôn ma túy. Riêng Mùa A Tinh thì không sợ, vì quê vợ Tinh ở Chung Xua. Hỏi chuyện trai gái Chung Xua yêu đương sớm, Tinh xác nhận là thật. Mùa A Tinh kể rằng, 15 tuổi, cậu đã yêu cô bé 12 tuổi ở Chung Xua. Yêu nhau 2 năm thì cưới. 15 tuổi, vợ đã sinh con đầu lòng, 16 tuổi thì sinh đứa thứ 2. Bây giờ, vợ chồng vẫn chưa đăng ký kết hôn được, bởi vợ Tinh chưa đủ tuổi.

Hỏi chuyện về Mùa A Tà và Mùa A Só uống mỡ sôi, Tinh xác nhận có thật. Theo Tinh, dù chưa được xem tận mắt, nhưng nghe cả xã kể. Bản thân Tinh chưa gặp hai nhân vật nổi tiếng lẫy lừng này, nhưng nghe đồn cả hai cùng chết từ mấy năm trước rồi (?!). Anh chủ cửa hàng tạp hóa ở trung tâm xã cũng nhất mực khẳng định hai cậu cháu đã thối ruột chết vì uống mỡ sôi, nhưng tôi và A Tinh cứ thử đi vào Chung Xua tìm hiểu thực hư cho ra nhẽ. Ngoài hành trang, tôi mang theo 1kg thịt cả nạc lẫn mỡ, rồi mới lên đường. Đường sá quả thực kinh khủng, nhưng Mùa A Tinh cũng đưa được tôi vào đến trung tâm bản. Gặp người dân ở đầu bản, thì họ khẳng định Mùa A Tà còn sống, vẫn ở bản. Mùa A Só còn sống hay đã chết thì không ai biết, vì mấy năm rồi không thấy Só đâu. Bỗng nhiên Só mất tăm mất tích khỏi địa bàn.

Lần mò vào ngôi nhà lúp xúp, tối om ở cuối bản, thì thấy một cụ bà ló đầu ra. Cụ không biết nói tiếng phổ thông. Mùa A Tinh phiên dịch mới biết rằng con trai cụ cùng vợ lên nương, chỉ lát nữa là về. Tôi ngồi đợi, mà thấy cụ cứ thấp tha thấp thỏm, nhìn tôi với ánh mắt len lén. Lát sau thì vợ Mùa A Tinh vác cuốc về. Nhìn mặt chị, thấy tái nhợt, tay chân run lẩy bẩy. Mùa A Tinh giao tiếp một tràng tiếng Mông, rồi giải thích với tôi rằng, mẹ và vợ Mùa A Tinh tưởng là công an đến bắt vì tội buôn bán ma túy! A Tinh phải giải thích mãi, hai người phụ nữ mới giãn cơ mặt, thoải mái tiếp chuyện. Hóa ra, ở bản Chung Xua, vô số thanh niên, đàn ông dính vào nghiện ngập, buôn bán ma túy, thậm chí sang cả Lào xách ma túy thuê, vào tù rất nhiều, nên vợ và mẹ Mùa A Tà cũng nghĩ Tà dính vào con đường đó, nên mới có "công an" đến tìm.

Nhập nhoạng tối, thì Mùa A Tà về. Mùa A Tà to cao, khuôn mặt sáng láng, hay chuyện, hoạt ngôn. Biết tôi là nhà báo, A Tà vui vẻ, thoải mái. Hỏi chuyện, vì sao người dân đồn đại Tà và Só đã chết, thì Tà rất bức xúc. Theo lời Tà, anh cũng không rõ lời lời đồn ấy xuất phát từ đâu, nhưng đúng là có thật. Mỗi lần rời bản, xuống trung tâm xã, hoặc ra huyện, ai nhìn thấy cũng kéo lại hỏi: "Tao tưởng mày đã chết rồi cơ mà? Sao người ta bảo mày uống mỡ sôi nên thối ruột mà chết?". Ai gặp Tà rồi, thì tin Tà còn sống, còn chưa gặp thì vẫn nghĩ anh đã chết. Riêng Mùa A Só, cháu của anh, thì mất tăm mất tích mấy năm nay, nên mọi người đều tin Só đã chết. Theo lời Tà, thì Só đã bỏ vợ và hai đứa con nhỏ, phiêu bạt sang Lào mấy năm nay không về. Bản thân anh cũng không biết Só còn sống hay đã chết.

Hỏi chuyện uống mỡ sôi, Mùa A Tà xác nhận là có khả năng đó thật và anh vẫn uống hàng ngày. Mùa A Tà sinh năm 1978, năm nay đã 37 tuổi, và có kinh nghiệm uống mỡ sôi đã 20 năm. "Đến giờ, mình cũng không giải thích được vì sao mình uống được mỡ sôi. Mình cũng đã hỏi một số người hiểu biết, và họ khẳng định khi mỡ sôi, thì nhiệt độ rất nóng, lên đến 200 độ C. Thế nhưng, mình uống mỡ sôi chỉ thấy hơi nóng, như uống nước chè vậy thôi. Do cơ thể mình đặc biệt, cũng có khi là do mình tập luyện nữa đấy" - Mùa A Tà bắt đầu câu chuyện.

Theo Mùa A Tà, hồi thanh niên, khoảng 17, 18 tuổi, Tà đi chơi với một người bạn ở xã Mường Luân, cách nhà đến 30 cây số. Hôm đó, Tà theo bạn vào một gia đình đang cúng ma. Đứa bé bị ốm, người ta tin rằng bị ma nhập, thầy bói cũng phán thế, nên phải mời thầy cúng đến bắt ma. Ông thầy cúng đó là người ở xã Mường Luân, là dân tộc Lào. Sau khi cúng bái rất lâu, thì ông chợt rút kiếm múa may, chém loạn xạ vào không trung trước mặt cháu bé nằm ốm thở thoi thóp. Múa kiếm một hồi, ông ta xông vào bếp lấy lưỡi dao nung đỏ giương lên trước mặt, rồi thè lưỡi liếm, phát ra tiếng cháy xèo xèo. Liếm dao nung đỏ một hồi, đến khi lưỡi dao hết màu đỏ rực, ông lại dúi vào bếp, rồi cầm chiếc chảo mỡ đã đun từ lâu, nóng khủng khiếp, rót ra bát sứ. Bê chiếc bát sứ đến gần cháu bé, ông đưa bát lên miệng, mút mỡ chùn chụt vào trong miệng. Chỉ uống hai hơi, hết sạch bát mỡ nóng. Nhìn cảnh ấy, Mùa A Tà và tất cả mọi người chứng kiến đều hãi hùng, dựng hết tóc gáy, nổi hết da gà. Người dân ở đây tin rằng, đó là lúc con ma xó, loại ma mà thầy cúng nuôi trong nhà, đã nhập vào ông thầy cúng và ông thầy cúng có khả năng đặc dị, có thể liếm, cắn lưỡi dao nung đỏ, uống mỡ sôi như uống nước chè. Hành động liễm lưỡi dao nung đỏ, uống mỡ sôi là để dọa con ma trong người đứa bé, để nó sợ mà bỏ đi. Cách chữa bệnh ấy thật quái dị, kỳ quặc, nhưng hiện vẫn phổ biến ở vùng Điện Biên Đông. Có bệnh, người ta không đi bệnh xá, mà nhờ thầy cúng đến… đuổi ma.

Sau buổi xem ông thầy cúng uống mỡ sôi, Mùa A Tà cứ bị ám ảnh. Nhiều đêm, nằm ngủ, A Tà vắt tay lên trái suy nghĩ về hiện tượng lạ lùng, quái dị đó. Nước sôi có 100 độ C, mà khi rót ra bát, còn phải thổi lấy thổi để mới uống nhâm nhấp được, mà ông thầy cúng gầy gò kia uống cả mỡ sôi, thì đúng là quái dị, miệng và họng chắc phải bằng thép! Mùa A Tà rán mỡ nhiều lần, thấy mỡ nóng bắn tí ti vào người, đã thấy bỏng rát, thì uống mỡ sôi đúng là chuyện khó tin. Nhưng, cái tính tò mò, hay khám phá, bản chất liều mạng, đã khiến Mùa A Tà thử nghiệm xem mỡ nóng thế nào.

Hôm đó, sắp Tết, nhà mổ con lợn béo nặng hơn tạ. Con nhiều mỡ, nên mẹ sai Mùa A Tà rán mỡ để dành. A Tà thái lưng rổ mỡ, rán một lúc thì mỡ sôi ngập nồi gang to. Những miếng thịt to bằng cổ tay, thả vào nồi, giờ tóp teo lại bằng ngón tay út. Nhìn nồi mỡ, Tà lại nghĩ đến cảnh ông thầy cúng người Lào uống cả bát mỡ sôi không hề hấn gì. Mùa A Tà lấy thìa nhôm, múc ít nước, té vào nồi mỡ. Lập tức, nước và mỡ bắn tứ tung ra ngoài. Điều đó có nghĩa, nước mỡ đã nóng già. Thế nhưng, như có ma quỷ xui khiến, Mùa A Tà liền lấy thìa múc mỡ, rồi đưa lên miệng uống. Uống một chút, mà môi miệng bỏng rát, nên Tà đổ chỗ thừa đi. Tà chợt nghĩ: "Sao mỡ nóng thế này mà ông thầy cúng kia lại uống được nhỉ?". Tà lấy gương soi miệng, thè lưỡi ra xem, thì không thấy phồng rộp hay dấu hiệu của bỏng. Thế là Mùa A Tà lại lấy thìa múc vài giọt uống. Cứ thế, suốt 2 ngày trời, Mùa A Tà không lên nương, không gặp bạn bè, mà cứ lúi húi ở bếp đun mỡ và tập uống. Sang ngày thứ 3, Mùa A Tà đã uống hết được một thìa mỡ sôi già, mà không thấy bỏng gì cả. "Lúc đầu mình chỉ uống bằng thìa nhỏ thôi. Sau thì mình dùng muôi để uống. Luyện khoảng 1 tháng sau, thì mình lấy bát uống y như ông thầy cúng người Lào nọ. Mặc dù mỡ sôi như vậy, nhưng mình chỉ thấy hơi nóng một chút thôi, chứ không bỏng đâu. Hồi ấy, mình tập luyện nhiều quá, mà uống hết cả nồi mỡ, hết cả con lợn, thế là bị bố mẹ mắng cho một trận. Mình uống bao nhiêu mỡ sôi cũng được, không bị bỏng, nhưng uống nhiều quá thì bị đi ngoài, bụng ậm ạch lắm. Giờ thì nghiện mỡ sôi rồi, lâu lâu không uống thì thèm lắm. Nhà mình chẳng bao giờ tích trữ được mỡ, vì có mỡ ở trong nhà, mình lên cơn nghiện, là đun sôi rồi uống hết. Nhiều khi, vợ sai đun mỡ để rán trứng, nhưng nhìn thấy mỡ sôi, thèm quá, mình múc uống sạch, lại bị vợ mắng. Mỡ càng nóng, càng bấy béo ngậy!" - Mùa A Tà kể chuyện.

Theo lời Mùa A Tà, thì ngoài việc luyện được khả năng uống mỡ sôi, thì bàn tay anh cũng đã miễn nhiễm với nhiệt từ chảo mỡ. Nhiều khi rán, xào món gì, anh không cần dùng đũa, mà dùng tay để đảo. Anh có thể thò cả mấy ngón tay, thậm chí bàn tay vào chảo ngập mỡ đang nóng già để vớt miếng đậu phụ, miếng gà rán lên và ăn ngon lành. Thậm chí, anh rang cơm, xào rau bằng các ngón tay. Anh dùng các ngón tay để đảo món ăn thay cho đũa, muôi. Luyện được hai khả năng đó, thì anh dạy cho người cháu, là Mùa A Só. Cậu cháu Mùa A Só có số phận khá buồn. Bố mất sớm, mẹ bỏ đi lấy chồng ở nơi khác, nên Só lớn lên dặt dẹo ở bản với ông bà. Đến tuổi đi học, không có ai nuôi dưỡng, nên chính quyền gửi vào Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh Lai Châu cũ. Đến tuổi trưởng thành, về bản sống, lấy vợ, sinh con. Mùa A Só được cậu là Mùa A Tà dạy uống mỡ nóng, nhúng tay vào chảo mỡ sôi. Thế là, hai cậu cháu nổi tiếng rần rần cả huyện.

Khi câu chuyện đang dang dở, thì vợ Mùa A Tà bảo rằng, chảo mỡ lợn đã rán xong, tóp mỡ đã teo lại, ngả sang màu vàng óng và đã sắp cháy vì nóng già rồi. Cũng may mà hôm đó tôi mua 1 kg thịt nửa nạc, nửa mỡ đem vào, chứ không biết tìm đâu ra mỡ để Mùa A Tà biểu diễn. Để khẳng định mỡ đã sôi già, Mùa A Tà dúi thêm củi, cho lửa cháy to. Mùa A Tà thả mấy đầu ngón tay vào chảo mỡ đang nóng, khiến chảo mỡ réo lên như thể rán mấy ngón tay của Tà. Tà thản nhiên dùng ngón tay nhặt tóp mỡ trong chảo đưa vào miệng nhai ngon lành. Nhìn cảnh ấy, tôi thực sự rùng mình. Thật khó có thể tưởng tượng, ngón tay bằng da bằng thịt lại khuấy trong chảo mỡ nóng già như thế.

 Nhưng, màn kinh dị trong cảnh đêm tối nhập nhoạng đã diễn ra, khiến tôi và Mùa A Tinh sởn gai ốc: Mùa A Tà dùng chiếc muôi nhôm múc canh, múc đầy muôi mỡ nóng, đưa lên miệng bình thản uống hết nhẵn. Mùa A Tà biểu diễn đi, biểu diễn lại, để tôi chụp được tấm hình ưng ý nhất trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chụp hình xong, tôi lại dùng máy quay phim, và Mùa A Tà lại biểu diễn từ đầu. Khi đã có đủ hình ảnh, video, thì chảo mỡ cũng đã cạn tận đáy!

Nguồn: Phạm Dương Ngọc

Read more…